Ngày 17 tháng 01 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất, thay thế Nghị định số 113/2017/NĐ-CP. Nghị định này có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu trữ, vận chuyển và sử dụng hóa chất.
So với quy định trước đây, Nghị định 25/2026/NĐ-CP bổ sung nhiều yêu cầu mới theo hướng quản lý chặt chẽ hơn, chuyển trọng tâm sang kiểm soát rủi ro, an toàn công nghệ và năng lực ứng phó sự cố. Dưới đây là những nội dung đáng chú ý doanh nghiệp cần quan tâm khi triển khai thực hiện:
1. Ban hành Khái niệm “Khu công nghiệp hóa chất chuyên ngành hóa chất”
Lần đầu tiên, pháp luật Việt Nam đưa ra khái niệm chính thức tại Khoản 2 Điều 3.
Đây là khu công nghiệp chuyên sản xuất và cung ứng dịch vụ cho dự án hóa chất, công trình hóa chất, trong đó phải có ít nhất 60% diện tích đất dành cho các dự án hóa chất hoặc dự án sử dụng sản phẩm hóa chất làm nguyên liệu đầu vào.
Quy định này tạo tiền đề hình thành các hệ sinh thái công nghiệp hóa chất tập trung, dễ dàng quản lý rủi ro và tối ưu hóa chuỗi cung ứng.
2. Đưa nguyên tắc “Hóa học xanh” vào trong thiết kế và lựa chọn công nghệ, thiết bị
Tại Điều 11 thuộc nghị định này đã quy định rõ các nguyên tắc hóa học xanh trong thiết kế và lựa chọn công nghệ, thiết bị.
Tại quy định này, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn phải ưu tiên các giải pháp công nghệ giúp giảm phát sinh chất thải nguy hại, tiết kiệm năng lượng, kiểm soát phát thải và hạn chế nguy cơ sự cố. Đồng thời, cũng khuyến khích phát triển các sản phẩm an toàn hơn, có khả năng phân hủy, sử dụng nguyên liệu tái tạo, chất xúc tác và hạn chế dung môi, hóa chất phụ trợ độc hại.
3. Ràng buộc chặt chẽ về khoảng cách an toàn của địa điểm dự án
Tại điều 12 tại nghị định này bổ sung quy định rõ về “Đánh giá việc đáp ứng quy định về khoảng cách an toàn đối với địa điểm thực hiện dự án hóa chất”.
Trách nhiệm này được xác định cụ thể tùy theo từng loại dự án và thẩm quyền quyết định đầu tư. Đặc biệt, các dự án không đáp ứng yêu cầu về khoảng cách an toàn sẽ không được phê duyệt.
So với quy định trước đây, đây là thay đổi có tác động lớn đối với các cơ sở hóa chất, đặc biệt là các dự án đầu tư mới hoặc dự án mở rộng trong khu công nghiệp hiện hữu. Doanh nghiệp không chỉ cần đáp ứng các yêu cầu về công nghệ và an toàn vận hành, mà còn phải rà soát kỹ điều kiện mặt bằng, khoảng cách đến khu dân cư, công trình hạ tầng và các đối tượng nhạy cảm, ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án. Trong nhiều trường hợp, quy định này có thể trở thành rào cản về địa điểm đầu tư, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh quy mô, bố trí lại mặt bằng hoặc lựa chọn địa điểm khác để bảo đảm đủ điều kiện pháp lý.
4. Chuẩn hóa yêu cầu về trang thiết bị và phương tiện ứng phó sự cố
Tại điều 25 thuộc nghị định này đã làm rõ và siết chặt trách nhiệm trang bị phương tiện phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất mà tại Nghị định 113/2017/NĐ-CP chưa làm rõ.
Trang thiết bị ứng phó phải đầy đủ, phù hợp với kế hoạch đã được phê duyệt; phương tiện bảo hộ cá nhân phải tương thích với từng loại hóa chất và đáp ứng các quy định về an toàn lao động. Ngoài ra, ngay cả các tổ chức, cá nhân sử dụng hóa chất cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cũng phải tuân thủ nghiêm hướng dẫn an toàn của nhà sản xuất.
So với Nghị định 113/2017/NĐ-CP, quy định mới đã chuyển từ yêu cầu “có trang bị” sang yêu cầu “trang bị đúng và đủ theo kịch bản rủi ro đã được phê duyệt”. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không thể trang bị mang tính hình thức hoặc theo kinh nghiệm chủ quan, mà phải căn cứ trực tiếp vào loại hóa chất, quy mô tồn trữ, tình huống sự cố và phương án ứng phó cụ thể đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
Về mặt thực tiễn, đây là điểm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý, bởi việc trang bị không đầy đủ hoặc không phù hợp có thể dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng. Trong trường hợp xảy ra sự cố, thiếu hoặc sai chủng loại trang thiết bị, phương tiện bảo hộ sẽ làm giảm khả năng ứng phó ban đầu, gia tăng nguy cơ mất an toàn cho người lao động, mở rộng phạm vi ảnh hưởng của sự cố và kéo dài thời gian khắc phục. Đồng thời, khi kiểm tra, thanh tra, việc không tuân thủ đúng nội dung kế hoạch đã được phê duyệt có thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ an toàn hóa chất, kéo theo nguy cơ bị xử phạt hành chính, yêu cầu khắc phục hoặc thậm chí đình chỉ hoạt động.

Trang thiết bị và dụng cụ sử dụng trong ứng phó sự cố hóa chất (ảnh minh họa)
5. Bổ sung các yêu cầu an toàn, an ninh đối với hoạt động vận chuyển hóa chất
Việc vận chuyển hóa chất theo Điều 26 - Nghị định mới được siết chặt qua 5 nhóm yêu cầu cốt lõi sau:
- Đăng kiểm & Cấp phép: Phương tiện, bồn chứa phải được đăng kiểm, kiểm định và có giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm theo đúng quy định.
- Tiêu chuẩn kỹ thuật: Phương tiện phải đáp ứng quy chuẩn an toàn, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường, phù hợp với từng loại hóa chất cụ thể.
- Bao bì & Nhãn mác: Bao bì phải kín, bền, chịu được tác động thời tiết và hóa chất. Nhãn dán phải rõ ràng, đầy đủ thông tin và không bị tẩy xóa bởi tác động bên ngoài.
- Nhân sự & Trang bị: Lái xe và người áp tải phải có đủ phương tiện bảo hộ cá nhân và thiết bị ứng phó sự cố theo đúng kế hoạch an toàn đã lập.
- Quy trình & Hồ sơ:
- Phải kiểm tra an toàn phương tiện và vệ sinh bao bì trước khi khởi hành.
- Bắt buộc mang theo Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất (bản cứng hoặc điện tử) suốt hành trình.

Tuân thủ quy định về nhãn mác và đăng kiểm phương tiện (ảnh minh họa)
6. Yêu cầu chuyên môn đối với người chịu trách nhiệm chuyên môn về an toàn hóa chất
Tại điều 27 thuộc nghị định này đã chuẩn hóa và phân tầng trình độ chuyên môn của người phụ trách an toàn hóa chất dựa trên tính chất hoạt động của doanh nghiệp:
|
Hoạt động hóa chất
|
Trình độ tối thiểu
|
Ngành đào tạo
|
|
Sản xuất
|
Đại học (Cử nhân)
|
Danh mục Phụ lục III
|
|
Kinh doanh / Lưu kho
|
Trung cấp
|
Danh mục Phụ lục III
|
|
Sử dụng / Tiêu hủy
|
Trung cấp
|
Danh mục Phụ lục III
|
|
Vận chuyển
|
Theo luật hàng nguy hiểm
|
Tùy loại phương tiện
|
7. Mở rộng đối tượng phải tham gia huấn luyện an toàn hóa chất
Bên cạnh nhóm lãnh đạo, quản lý và kỹ thuật như trước đây, tại khoản 3 điều 29 - Nghị định 25/2026/NĐ-CP đã mở rộng đối tượng phải tham gia huấn luyện an toàn hóa chất:
- Nhóm 2, bao gồm:
+ Người chịu trách nhiệm về an toàn hóa chất của tổ chức, cá nhân hoạt động hóa chất;
+ Người trực tiếp giám sát về an toàn hóa chất tại nơi làm việc; thủ kho liên quan đến hoạt động hóa chất hoặc tương đương.
- Nhóm 3, bao gồm:
+ Người lao động liên quan trực tiếp đến hóa chất;
+ Nhân viên y tế tại cơ sở hoạt động hóa chất (nếu có).

(Ảnh minh họa)
8. Điều chỉnh điều kiện đối với người huấn luyện an toàn hóa chất
Điều kiện đối với người trực tiếp huấn luyện an toàn hóa chất được Nghị định 25/2026/NĐ-CP (Điều 31) điều chỉnh theo hướng thống nhất với pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, khắc phục tình trạng quy định chưa rõ ràng trước đây.
Theo đó, người huấn luyện phải đồng thời đáp ứng yêu cầu về trình độ và kinh nghiệm thực tế. Về chuyên môn, người huấn luyện phải có bằng cử nhân hoặc tương đương trở lên ngành hóa học theo danh mục quy định. Đồng thời, phải có kinh nghiệm làm việc thực tế tại vị trí liên quan đến an toàn hóa chất tại chính cơ sở hoặc tổ chức mình, với thời gian kinh nghiệm phù hợp theo quy định hiện hành.
Thời gian kinh nghiệm áp dụng theo tiêu chuẩn của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với người huấn luyện nội dung lý thuyết (hiện nay là 03 năm, theo Nghị định 44/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung).
So với quy định trước đây tại Nghị định 113/2017/NĐ-CP, đây là một thay đổi đáng chú ý. Nghị định 113 yêu cầu người huấn luyện phải có 05 năm kinh nghiệm, tuy nhiên quy định này mang tính độc lập, chưa gắn kết rõ ràng với các tiêu chuẩn chung về huấn luyện an toàn lao động. Điều này dẫn đến lúng túng trong quá trình áp dụng, đặc biệt khi xác định điều kiện của người huấn luyện nội bộ tại doanh nghiệp.
Cách tiếp cận mới của Nghị định 25/2026/NĐ-CP không đơn thuần là giảm số năm kinh nghiệm, mà thể hiện rõ định hướng chuẩn hóa và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật. Người huấn luyện an toàn hóa chất vừa phải đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn ngành hóa học, vừa phải có kinh nghiệm thực tế phù hợp theo chuẩn chung của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động, qua đó bảo đảm chất lượng huấn luyện gắn với thực tiễn sản xuất và điều kiện vận hành của cơ sở.
9. Mở rộng trường hợp phải lập Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất
Tại khoản 2 điều 33, mở rộng đối tượng phải lập Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất, cụ thể:
Không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp thuộc danh mục bắt buộc, nghị định yêu cầu các cơ sở có tổng tỷ lệ khối lượng hóa chất nguy hiểm tồn trữ đạt hoặc vượt ngưỡng quy định (> 1) vẫn phải xây dựng Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất.
Đây là thay đổi quan trọng so với cơ chế quản lý trước đây vốn dựa chủ yếu vào danh mục hóa chất.
Điều này có nghĩa là, trong thực tế:
- Nhiều cơ sở không tự nhận diện mình là cơ sở hóa chất (ví dụ: kho chứa, nhà máy sử dụng hóa chất làm nguyên liệu phụ, cơ sở sản xuất có nhiều loại hóa chất với khối lượng nhỏ lẻ) vẫn có thể thuộc diện bắt buộc phải lập Kế hoạch nếu tổng tỷ lệ khối lượng hóa chất nguy hiểm cộng gộp đạt ngưỡng quy định;
- Doanh nghiệp không thể chỉ căn cứ vào danh mục hóa chất để kết luận mình có hay không nghĩa vụ lập Kế hoạch, mà phải đánh giá tổng thể toàn bộ danh mục hóa chất tồn trữ thực tế tại cơ sở.
10. Yêu cầu chi tiết hóa nội dung Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất
Tại điều 33, nghị định mới yêu cầu nội dung Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất phải được xây dựng chi tiết và sát thực tế hơn.
Một Kế hoạch "chuẩn" theo quy định mới phải hội đủ 6 nhóm nội dung trọng yếu sau:
1. Đánh giá bối cảnh:
- Liệt kê đặc tính, khối lượng hóa chất, công nghệ sử dụng.
- Mô tả đặc điểm địa lý, dân cư và môi trường xung quanh cơ sở.
- Đánh giá nguồn nhân lực và trang thiết bị hiện có.
2. Dự báo rủi ro:
- Xây dựng kịch bản các tình huống sự cố có thể xảy ra.
- Xác định phạm vi ảnh hưởng và phân cấp mức độ hậu quả.
3. Giải pháp phòng ngừa:
- Biện pháp an toàn tại kho bãi và các vị trí có nguy cơ cháy nổ cao
- Giải pháp kỹ thuật để tránh thất thoát hóa chất ra môi trường.
4. Phương án ứng phó chi tiết:
- Phân vùng nguy hiểm và phương án điều động lực lượng/phương tiện.
- Kỹ thuật xử lý cụ thể cho từng loại hóa chất.
- Sử dụng đồ bảo hộ (PPE) phù hợp với đặc tính độc hại của từng chất.
- Cơ chế phối hợp với lực lượng chức năng (PCCC, Cứu hộ...) và kế hoạch sơ tán dân cư.
5. Diễn tập định kỳ: Lên lịch trình và kịch bản diễn tập thực tế để kiểm tra tính sẵn sàng của nhân sự và thiết bị.
6. Khắc phục hậu quả: Các bước xử lý môi trường, làm sạch khu vực và phục hồi sau sự cố.
11. Bổ sung nghĩa vụ cập nhật biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất lên cơ sở dữ liệu quốc gia
Tổ chức, cá nhân thuộc quy định tại điểm a khoản 1, điều 35 nghị định này có trách nhiệm cập nhật Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trên cơ sở dữ liệu quốc gia không quá 30 ngày kể từ ngày ban hành biện pháp.
Nghị định 25/2026/NĐ-CP đã bổ sung nhiều quy định mới, siết chặt yêu cầu trong quản lý an toàn hóa chất và mở rộng trách nhiệm của doanh nghiệp. Trước những thay đổi này, các cơ sở hoạt động hóa chất cần chủ động nghiên cứu, rà soát và điều chỉnh hoạt động để bảo đảm tuân thủ. Việc thực hiện đúng quy định không chỉ giúp tránh rủi ro pháp lý mà còn nâng cao hiệu quả quản lý an toàn và phát triển bền vững.